2.1. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO BỘ XƯƠNG NGƯỜI

 

Gồm các nội dung :

2.1.1. Đại cương về hệ xương
  a/. Sự hình thành và phát triển của hệ xương
  b/.
Chức năng của xương
  c/.
Thành phần hóa học và tính chất  sinh lí của xương
 
d/. Hình dáng của xương 
  e/. Cấu tạo của xương
2.1.2. Đại cương về khớp
   a/. Khái niệm và phân loại khớp
   b/. Cấu tạo các loại khớp
2.1.3. Các phần chính của bộ xương

 

2.1.1. Đại cương về hệ xương, khớp

a/. Sự hình thành và phát triển của hệ xương

Trong phôi thai, xương được hình thành từ lớp trung phôi bì và phát triển qua 3 giai đoạn: màng => sụn => xương (trừ một số xương ở vòm sọ, một vài xương mặt không qua giai đoạn sụn và một phần xương sườn vẫn tồn tại sụn, không qua giai đoạn xương).

 Bộ xương màng ở người bắt đầu hình thành từ cuối tháng một của bào thai. Từ tháng thứ hai thì màng biến thành sụn, và từ cuối tháng thứ hai thì sụn bắt đầu được thay bằng mô xương. Sau khi ra đời, quá trình hóa xương vẫn tiếp tục cho tới lúc trưởng thành (nam khoảng 25 tuổi, nữ khoảng 23 tuổi).

Tuổi thiếu niên, sự hóa xương chưa hoàn tất, sụn vẫn còn nhiều. Đặc biệt các đốt sống vẫn chưa cốt hóa hết, đĩa sụn gian đốt sống vẫn còn mềm, hai khối cơ mông chưa phát triển. Chính đặc điểm đó chúng ta cần chú ý tránh cho các em mang vật nặng hoặc tập những môn TDTT không thích hợp với lứa tuổi, hoặc bàn ghế ngồi học không đúng tiêu chuẩn, ngồi sai tư thế  dễ làm các em bị cong vẹo cột sống.

 Người ta có thể dùng X-quang để xác định độ dày của các loại mô xương chắc, mô xương xốp và mô sụn còn lại trong xương dài để xác định tuổi của học sinh

Quá trình cốt hóa ở xương dài

 

Vậy  sự phát triển của xương phụ thuộc vào những yếu tố nào?

 Ngoài yếu tố di truyền, sự phát triển của xương phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện khác:

- Chế độ dinh dưỡng. Nếu trong khẩu phần ăn thiếu Canxi, Phố́t pho, Vitamin D, khoáng...lâu ngày có thể sẽ mắc bệnh còi xương.

 - Chế độ lao động, TDTT.  Lao động đúng mức, tập luyện TDTT đúng cách, giúp xương phát triển, mấu xương to ra là chỗ bám vững chắc cho cơ; mô xương chắc sẽ dày lên, dài ra, các hốc xương cũng được phát triển rộng ra. Sự tập luyện TDTT và dinh dưỡng đúng mức từ nhỏ có thể làm sự cốt hóa nhanh và phát triển chiều cao vượt mức.  Lao động quá mức từ nhỏ, làm quá trình cốt hóa nhanh,  sự phát triển của xương kết thúc nhanh, trẻ không lớn lên được.

Vậy xương có những chức năng gì trong cơ thể?

b/. Chức năng của xương.

Xương có những chức năng chính sau:

+ Nâng đỡ: Các xương liên kết với nhau tạo thành khung cứng và điểm tựa để nâng toàn bộ cơ thể, giúp cho người có tư thế đứng thẳng.

+ Bảo vệ: Xương bảo vệ cho những cơ quan phía trong khỏi bị tổn thương như: hộp sọ bảo vệ bộ não, cột sống bảo vệ tủy sống.

+ Vận động: Xương kết hợp với cơ tạo nên hệ đòn bẩy mà điểm tựa là các khớp xương, đảm bảo cho hoạt động của cơ thể. Như vậy hệ xương đóng vai trò thụ động trong bộ máy vận động.

+ Tạo máu: Tủy xương là nơi tạo ra huyết cầu.

+ Trao đổi chất: Xương là nơi dự trữ các chất mỡ, các muối khoáng, đặc biệt là canxi và phốt pho. Khi xương cơ động làm điều hòa các chất này. (Hệ xương chiếm 99% muối canxi của toàn bộ cơ thể. Vì thế, Paplốp - nhà sinh lí học Nga - ví hệ xương như là một kho chứa muối của cơ thể).

Ngoài chức năng trên, xương còn có ý nghĩa thông tin quan trọng trong pháp y, nhân chủng học và còn là đối tượng khảo sát của nhiều ngành khoa học.       

c/. Thành phần hóa học và tính chất  sinh lí của xương

Trong xương có 2 thành phần chủ yếu:

- Thành phần hữu cơ: chiếm 30% gồm prôtêin, lipit, mucopolysaccarit.

- Chất vô cơ: chiếm 70% gồm nước và muối khoáng, chủ yếu là CaCO3, Ca3(PO4)2. Các thành phần hữu cơ và vô cơ liên kết phụ thuộc lẫn nhau đảm bảo cho xương có đặc tính đàn hồi và rắn chắc. Nhờ đó xương có thể chống lại các lực cơ học tác động vào cơ thể. Xương người lớn chịu được áp lực 15kg/mm2, gấp khoảng 30 lần so với gạch, hoặc tương đương với độ cứng của bê tông cốt sắt.

Tỉ lệ các thành phần hóa học của xương ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau. Tỉ lệ đó phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, tuổi tác, bệnh lý. Cơ thể càng non, chất hữu cơ trong xương càng nhiều nên xương trẻ em mềm dẻo hơn. Khi về già, tỉ lệ vô cơ tăng dần lên nên xương dòn, dễ gãy.

Nếu thiếu sinh tố D và phốt pho thì xương không có khả năng giữ được muối Canxi, làm xương mềm, dễ biến dạng. Trường hợp thức ăn thiếu Canxi, thì cơ thể tạm thời huy động Canxi từ xương.

d/. Hình dáng của xương 

Bộ xương người gồm 206 xương, trong đó có 85 xương chẵn và 36 xương lẻ và được chia thành 3 phần: xương đầu, xương thân, xương chi. Mỗi phần có nhiều xương khác nhau. Dựa vào hình dáng chia xương thành 5 loại chính: xương dài, xương ngắn, xương dẹt, xương khó định hình, xương vừng

+ Xương dài: Có hình ống, gồm 3 phần:  đoạn giữa là thân xương cấu tạo bằng mô xương chắc, trong có ống chứa tủy. hai đầu xương phình to hơn, có sụn bao bọc, cấu tạo bằg mô xương xốp, trong chứa tủy xương. (Ví dụ : Xương cẳng chân, xương cẳng tay...)

+ Xương ngắn: Hình dáng và cấu tạo nói chung giống xương dài, nhưng cấu tạo chủ yếu là mô xương xốp.  (Ví dụ: xương ngón tay, ngón chân...)

+ Xương dẹt : Là những xương rộng, mỏng với 2 bản xương đặc nằm 2 bên, giữa là  mô xương xốp. (Ví dụ: xương bả vai, các xương ở hộp sọ).

+ Xương khó định hình:  Là loại xương có hình dáng phức tạp. (Ví dụ:  xương bướm, xương hàm trên...)

+ Xương vừng: Là loại xương có hình bầu dục giống như hạt vừng. (Ví dụ : xương bánh chè).

Tuy nhiên cầ lưu ý rằng, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối. Vì có một số xương có thể xếp vào loại  này hay loại kia (như xương sườn, xương ức có thể xếp vào loại xương dẹt, cũng có thể xếp vào loại xương dài). Một số xương sọ như xương bướm, xương sàng, xương hàm trên... là những xương dẹt nhưng trong khoang xương lại không chứa tủy đỏ mà chứa khí. Đây là một đặc điểm thích nghi của bộ xương người.

d/. Cấu tạo của xương

Các loại xương tuy khác nhau, nhưng nếu cưa bất kì một xương nào ra ta cũng thấy chúng đều có các phần chính sau:

- Lớp màng xương, ở ngoài cùng, gồm 2 lớp: lớp ngoài (ngoại cốt mạc) là lớp mô liên kết sợi chắc, mỏng, dính chặt vào xương, có tính đàn hồi, trên màng có các lỗ nhỏ. Lớp trong gồm nhiều tế bào sinh xương (tạo cốt bào) có nhiều mạch máu và thần kinh đến nuôi xương. Nhờ lớp tế bào này mà xương có thể lớn lên, to ra.

- Phần xương đặc:  rắn, chắc, mịn, vàng nhạt.

- Phần xương xốp: do nhiều bè xương bắt chéo nhau chằng chịt, để hở những hốc nhỏ trông như bọt biển

- Phần tủy xương: nằm trong lớp xương xốp. Có 2 loại tủy xương:

+ Tủy đỏ là nơi tạo huyết, có ở trong các hốc xương xốp (ở thai nhi và trẻ sơ sinh tủy đỏ có ở tất cả các xương)

+ Tủy vàng chứa nhiều tế bào mỡ, chỉ có trong các ống tủy ở thân xương dài người lớn, bên trong cùng lớp xương xốp.

Tuy nhiên mỗi loại xương lại có đặc điểm cấu tạo riêng. Chẳng hạn :   

- Đối với các xương dài.  Ở 2 đầu xương, lớp xương đặc chỉ còn là một lớp mỏng bao bọc ngoài và bên trong là cả khối xương xốp chứa đầy tủy đỏ. Các bè xương ở đây xếp theo nhiều hướng khác nhau tạo thành những hốc nhỏ chứa tủy đỏ. Còn ở phần thân xương, lớp xương chắc, đặc ở ngoài làm thành một ống xương dày ở giữa, và mỏng dần ở 2 đầu; lớp xương xốp ở trong thì ngược lại, mỏng ở giữa và dày dần ở 2 đầu;  trong cùng là một ống tủy dài chứa đầy tủy vàng. Các bè xương ở đây cuộn lại thành ống sắp theo chiều dọc của xương tạo thành các trụ xương. Giữa trụ xương có ống rỗng (ống Have) chứa thần kinh và mạch máu. Các trụ xương lại được liên kết với nhau bởi các tấm xương phụ làm cho mô xương chắc được bền vững.

- Đối với xương ngắn. Cấu tạo cũng tương tự như cấu tạo ở đầu xương dài: ngoài là một lớp xương đặc, mỏng; trong là một khối xương xốp chứa tủy đỏ.

- Đối với xương dẹt : Có cấu tạo gồm 2 bản xương đặc, giữa là một lớp xương xốp.

- Riêng đối với các xương sọ: bản ngoài rất chắc, bản trong giòn và dễ vỡ, lớp xương xốp ở giữa mang tên riêng là lõi xốp (diploe).

2.1.2. Đại cương về khớp

a/. Khái niệm và phân loại khớp.

* Khái niệm. Sự liên kết giữa 2 hay nhiều xương tiếp xúc với nhau gọi là khớp. Nhờ có khớp mà các xương cử động linh hoạt được, hoặc các xương sẽ liên kết với nhau để tạo thành khung, hộp bảo vệ các cơ quan bên trong.

* Phân loại. Các khớp trong cơ thể khác nhau về mức độ hoạt động và cấu tạo. Tùy chức năng của mỗi khớp mà sự liên kết có khác nhau. Do đó có nhiều cách để phân loại khớp.

+ Theo mức độ hoạt động của khớp: có khớp bất động, khớp bán động và khớp động

+ Theo cấu tạo: có khớp sợi, khớp sụn, khớp hoạt dịch.

+ Theo hình thể: có khớp răng cưa, khớp mào, khớp phẳng, khớp cầu, khớp yên.

b/. Cấu tạo các loại khớp

* Khớp bất động (Khớp sợi). Là khớp mà 2 xương nối với nhau bởi mô liên kết hay mô sụn, giữa chúng không có khe hở. Sự vận động  của các khớp này rất hạn chế hoặc mất cử động hoàn toàn. Có 3 loại khớp bất động chính: Khớp bất động liên kết, khớp bất động sụn và khớp bất động xương

- Khớp bất động liên kết : Các xương nối với nhau bởi mô liên kết. Gồm các loại: KBĐLK sợi (như dây chằng giữa các cung đốt sống); KBĐLK màng (như màng liên kết giữa xương chày-mác); KBĐLK xương (như khớp các xương sọ trẻ sơ sinḥ)

- Khớp bất động sụn: Các xương nối với nhau bởi lớp sụn. (như khớp ức - đòn, giữa xương sườn -ức)

- Khớp bất động xương: Khớp nối giữa 2 xương bởi mô xương.   (như khớp các xương sọ ở người trưởng thành).

* Khớp bán động (khớp sụn). Là khớp nối giữa 2 xương có một khe hẹp bởi một mô sụn. Sự hoạt động của khớp có sự hãn chế. (như khớp giữa các xương đốt sống; hoặc khớp cùng - chậu)

* Khớp động (khớp hoạt dịch). Là khớp nối các xương nhờ ổ khớp cho phép xương cử động dễ dàng.

Khớp động có cấu tạo gồm diện khớp, bao khớp, dây chằng, ổ khớp và các phần phụ như sụn viền, sụn chêm.

 - Diện khớp là chỗ nối 2 đầu xương, đầu này lồi (gọi là chỏm khớp) thì đầu kia lõm (gọi là hõm khớp). Các đầu xương được phủ một lớp sụn trơn, nhẵn, đàn hồi có tác dụng giảm ma sát, chịu được lực nén và giảm chấn động cơ học, tăng tính linh hoạt và bền vững của khớp. Độ linh hoạt và bền vững của khớp phụ thuộc vào sự tương ứng giữa các diện khớp: chỏm và hõm khớp càng sát thì độ linh hoạt càng ít, nhưng độ bển càng vững và ngược lại. Khi hõm khớp quá bé, cạn thì có thêm sụn chêm hay sụn viền, làm cho hõm khớp rộng và sâu thêm (Ví dụ : khớp vai) 

- Bao khớp: là một màng bám vào bờ của các diện khớp để nối 2 xươg lại với nhau. Bao khớp mỏng, dai, đàn hồi, có nhiều mạch máu và dây thần kinh. Chiều dày và sức căng của bao khớp phụ thuộc vào chức phận của khớp. Với khớp cần cử động rộng rãi thì bao khớp mỏng và ít căng và ngược lại.Thành bao khớp có 2 lớp: lớp ngoài: là lớp bao sợi, dày, có nh/vụ bảo vệ cho khớp;  lớp trong: là màng hoạt dịch, tiết dịch nhờn để bôi trơn đầu khớp

 - Ổ khớp: là khe kín do màng trong của bao khớp tạo nên, trong chứa chất hoạt dịch

 - Dây chằng: là những bó sợi được bao bọc bên ngoài khớp (có trường hợp dây chằng nằm trong bao khớp nhưng vẫn nằm ngoài bao hoạt dịch). Ngoài ra các gân, cơ ở xung quanh bao khớp cũng có tác dụng như một dây chằng. Phần lớn dây chằng không có tính đàn hối nhưng chắc. Tuy nhiên bằng những bài tập có hệ thống, có thể cải thiện tính đàn hối của hệ thống dây chằng, làm tăng độ linh hoạt của khớp.

Dựa vào trục quay, người ta phân biệt 3 loại khớp động : 

Khớp 1 trục : gồm có khớp trụ (như khớp giữa xương trụ - quay) ; khớp ròng rọc (như khớp đầu xương cánh tay - cẳng tay)

Khớp 2 trục: gồm khớp bầu dục ( như khớp giữa cẳng tay - cổ tay); khớp yên (như khớp giữa ngón tay cái và xương thang cổ tay)

Khớp nhiều trục : gồm khớp quạ (như khớp giữa xương chậu - Xương đùi); khớp cầu (như khớp giữa xương bả vai - xương cánh tay).


Trang  | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 |                       Về đầu trang