5.2. VÒNG TUẦN HOÀN MÁU VÀ VÒNG TUẦN HOÀN BẠCH HUYẾT

 


Gồm các nội dung :
 

5.2.1. Vòng tuần hoàn máu
5.2.2. Tuần hoàn bạch huyết

5.2.1. Vòng tuần hoàn máu

a/ Vòng tuần hoàn chính thức"Vòng tuần hoàn lớn (màu đỏ và xanh dương nửa dưới). Vòng tuần hoàn nhỏ (màu đỏ và xanh dương nửa trên). Vòng tuần hoàn bạch huyết (màu xanh lá cây)"

Máu được vận chuyển trong hệ mạch là nhờ sự co bóp của tim. Máu từ tim đi vào các ĐM, qua các mao mạch phân bố khắp cơ thể rồi lại trở về tim theo đường TM qua 2 vòng tuần hoàn: vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ.

+ Vòng tuần hoàn lớn. Máu đỏ tươi giàu ôxi và dinh dưỡng từ TTT theo ĐM chủ đến các cơ quan, các tổ chức cơ thể. Sau khi thực hiện trao đổi chất tại mạng lưới mao tĩnh mạch, máu trở thành máu đỏ thẫm nghèo ôxi, theo TM chủ (trên và dưới) trở về TNP.

+ Vòng tuần hoàn nhỏ.  Máu đỏ thẫm nghèo ôxi từ TTP theo ĐM phổi lên  phổi. Sau khi trao đổi khí ở phổi, trở thành máu đỏ tươi giàu ôxi theo TM phổi  trở về TNT.

b/ Vòng tuần hoàn thai nhi

Ở thai nhi, máu mẹ và máu con không tiếp xúc trực tiếp với nhau. Trao đổi chất được thực hiện qua màng mao mạch của mẹ và của con tại nhau thai. Máu mẹ bắt đều nuôi thai từ tháng thứ hai, khi hệ mạch của thai đã được hình thành.

Vì thai nhi không hô hấp bằng phổi, vòng tuần hoàn nhỏ chưa hoạt động nên hệ tim mạch thai nhi có một số đặc điểm khác hệ tuần hoàn chính chức.

+ Tim thai nhi cũng có 4 ngăn, nhưng tâm nhĩ phải và tâm thất trái thông nhau qua một lỗ bầu dục nằm trên vách liên nhĩ.

+ Giữa thân động mạch phổi và cung động mạch chủ có một ống nối, gọi là ống Botan. Mặt khác do máu mẹ và thai nhi không tiếp xúc trực tiếp với  nhau, nên sự trao đổi chất giữa máu mẹ và máu thai nhi được thực hiện qua màng mao mạch tại nhau thai.

+ Vòng tuần hoàn thai nhi: Máu giàu chất dinh dưỡng và O2 từ nhau thai tới thai nhi qua tĩnh mạch rốn. Từ tĩnh mạch rốn chia ra 2 nhánh: một nhánh đi thẳng đến tĩnh mạch chủ dưới; một nhánh qua gan, rồi tất cả đổ vào tĩnh mạch chủ dưới để về tâm nhĩ phải của tim thai. Phần lớn máu từ tâm nhĩ phải qua “lỗ bầu dục” sang tâm nhĩ trái, rồi xuống tâm thất trái và được dồn vào động mạch chủ; còn một phần nhỏ máu từ tâm nhĩ phải xuống tâm thất phải rồi vào động mạch phổi. Phần lớn lượng máu này qua ống Botan vào động mạch chủ để hoà chung với máu pha từ tâm thất trái; còn một phần nhỏ lên phổi dùng để nuôi phổi, rồi về tâm nhĩ trái.

Sau khi cung cấp dinh dưỡng và O2 cho các bộ phận, máu trở nên nghèo O2, giàu CO2 , thì một phần máu theo tĩnh mạch chủ dưới để về tim. Còn phần lớn (2/3) máu tĩnh mạch theo 2 động mạch rốn đưa máu về nhau thai để trao đổi với máu mẹ, làm giàu dinh dưỡng và O2 

Như vậy, máu tuần hoàn trong phôi là máu pha; máu cung cấp cho phần trên thai nhi là máu giàu O2 và dinh dưỡng hơn ở phần dưới.

Khi trẻ ra đời, cuống rốn bị cắt, sự trao đổi chất và khí với máu mẹ không còn. Khí CO2 tích luỹ trong máu trẻ tăng lên, kích thích trung khu hô hấp gây động tác hít vào. Phổi và các mao mạch phổi được căng ra, máu được hút vào các mao mạch phổi, lỗ bầu dục được bịt kín. Đồng thời khi máu từ phổi chảy về tâm nhĩ trái gây ra một áp lực ngăn cản không cho máu từ tâm nhĩ phải sang tâm thất trái nữa.

5.2.2. Tuần hoàn bạch huyết

Trong cơ thể, bên cạnh hệ tuần hoàn máu còn có hệ tuần hoàn bạch huyết. Bạch huyết được vận chuyển trong một hệ riêng gọi là hệ bạch huyết. Hệ bạch huyết gồm các hạch bạch huyết và các mạch bạch huyết.

Hạch bạch huyết là nơi trú ẩn của nhiều tế bào bạch cầu thực bào.

Sự hình thành bạch huyết từ nước mô. Nước mô thấm vào các ngách cụt của mao mạch bạch huyết (các mũi tên xanh)

Mạch bạch huyết gồm một mạng lưới các mao mạch được phân bố rộng rãi khắp các phần của cơ thể. Các mạch này gồm các tĩnh mạch và các mao mạch bạch huyết. Các mao mạch bạch huyết là những mạch nhỏ bịt đầu, nằm ở các khoảng gian bào. Dịch mô, các protein và các chất khác được hấp thu vào mao mạch bạch huyết. Các mao mạch bạch huyết tập trung lại thành các tĩnh mạch bạch huyết nhỏ, sau đó  hợp thành các tĩnh mạch bạch huyết lớn hơn và cuối cùng là 2 ống bạch huyết rất lớn đổ vào tĩnh mạch lớn của hệ tuần hoàn máu ở phần trên của ngực, gần tim.

Các protein rò rỉ cũng được thấm theo đường này bằng cách khuếch tán vào các mao mạch bạch huyết để đưa về máu. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì cân bằng áp suất thẩm thấu giữa máu và dịch mô.

Hệ bạch huyết làm nhiệm vụ thu nhận và chuyển các yếu tố từ máu thấm ra và các chất mà tế bào không dùng đến cùng các chất mỡ hấp thu được ở ruột… vào máu, trả về tim qua hệ tĩnh mạch. Ngoài ra hệ bạch huyết còn làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể.

Về cấu tạo, thành các ống bạch huyết cũng có cấu tạo như thành mạch máu, gồm ba lớp: lớp mô liên kết ở ngoài; lớp cơ đàn hồi ở giữa và lớp nội bì lót ở trong. Thành ống bạch huyết cũng có van như tĩnh mạch máu.

Bạch huyết chảy được trong mạch bạch huyết theo một chiều nhất định là nhờ các van trong mạch bạch huyết và sự co bóp nhịp nhàng của thành mạch với tần số 10 – 12 lần/ phút với vận tốc chảy là 4 – 5mm/giây. Mỗi ngày có khoảng 1200 – 1600 ml dịch bạch huyết đổ vào hệ tuần hoàn máu.

Các mạch bạch huyết xuất phát từ các mao mạch bạch huyết. Mạch bạch huyết cấu tạo giống tĩnh mạch. Tuy nhiên mạch bạch huyết thường chạy song song với nhau, ít nối với nhau. Trên đường đi, các mạch bạch huyết thường đi qua các hạch bạch huyết nên những phần tử như các tế bào chết, các mảnh vỡ tế bào, các tế bào ung thư và các vi khuẩn bị nhốt lại và bị phá hủy bởi các tế bào thực bào.

Các mạch bạch huyết tập trung vào hai ống bạch huyết chính là ống bạch huyết ngực và ống bạch huyết phải. Cuối cùng bạch huyết được đổ vào tĩnh mạch chủ trên và về tim.

Ống bạch huyết ngực rất dài, gần bằng 35- 40 cm, có nhiệm vụ thu nhận bạch huyết từ các mạch bạch huyết ở hai chi dưới, toàn bộ xoang bụng, nửa ngực trái, chi trên trái, nửa đầu trái và cổ bên trái.

Ống bạch huyết phải, dài gần bằng 1- 2 cm, có nhiệm vụ thu nhận bạch huyết từ các phần còn lại của cơ thể.

Hoạt động của các mạch bạch huyết do dây thần kinh giao cảm điều hoà. Lưu lượng bạch huyết phụ thuộc vào sự co cơ, sự vận động trong cơ thể, huyết áp, áp suất dịch kẽ và khối lượng máu tuần hoàn trong mạch.


 Tham khảo :     Ôn tập về Hệ tuần hoàn         

Về đầu trang