Đầu trang

CHƯƠNG 8. TÍNH CHỐNG CHỊU CỦA THỰC VẬT

Bài 15.  ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA THỰC VẬT

 

Thí nghiệm 1. Xác định khả năng chịu mất nước của thực vật theo V.V.Grinenco, I.X. Poxpelova

 

        Nguyên tắc

 

         Phương pháp dựa vào sự tính toán lượng nước được thải ra từ mẫu thực vật đem nghiên cứu khi ngâm nó vào các dung dịch saccaroza có nồng độ tăng dần. Tiến hành xác định chỉ tiêu này đồng thời việc đo tính thấm của tế bào chất đối với nước.

           Địa điểm thục hành

              Pḥng thí nghiệm.

         Dụng cụ và nguyên liệu

 

-         Ống nghiệm

-         Kéo

-         Khúc xạ kế

-         Bếp cách thuỷ

-         Nhiệt kế

-         Máy điều nhiệt

-         Cân phân tích

-         Đồng hồ

-         Saccaroza

 

·        Xác định tính thấm của tế bào chất đối với nước

 

Dễ dàng tính được lượng nước do mô thực vật hút vào hay thải ra bằng cách ngâm các mô hay cơ quan cần nghiên cứu vào các dung dịch saccaroza ưu trương hay nhược trương. Theo sự biến đổi của nồng độ dung dịch sacaroza trước và sau khi ngâm mẫu có thể tính được lượng nước hút vào hay thải ra. Biết lượng nước đó có thể tính được tính thấm của tế bào chất đối với nước.

 

Tiến hành thí nghiệm

 

Thí nghiệm gồm hai phần: đo sức hút của mô và đo lượng nước do mô hút vào hay thải ra.

Chuẩn bị một loạt các dung dịch saccaroza mà nồng độ phân tử của chúng nằm trong giới hạn dao động giả thuyết về sức hút nước của đối tượng nghiên cứu và khác nhau nấc 0,025M, t́m nồng độ đẳng trương (ngâm mẫu trong thời gian 15 phút). Tiếp theo pha hai dung dịch khác biệt nhau so với nồng độ đẳng trương t́m được với  cùng một vị trí số. Dung dịch đầu với sức hút 5at bé hơn được sử dụng để xác định tốc độ hút nước của mô. Dung dịch thứ hai với sức hút 5at lớn hơn so với nồng độ của mẫu dùng để xác định tính thấm của tế bào chất đối với nước do mô thải ra. Cho vào trong mỗi cốc hay ống nghiệm 2ml mỗi dung dịch. Xác định khối lượng của chúng và ngâm mẫu cần nghiên cứu vào đó (xác định kích thước tối ưu của mẫu đối với đối với từng đối tượng cụ thể sơ bộ trước bằng thực nghiệm. Khi đo tính thấm của tế bào chất của các lá cây ăn quả, cây gỗ người ta thường cho vào dung dịch mảnh lá có diện tích 3-4cm2, cố gắng để cho lá ít bị tổn thương. Khi đo tính thấm của tế bào chất các rễ có cấu tạo sơ cấp, mẫu rễ có độ dài tổng số 20cm với đường kính 0,1cm và tính diện tích như đối với h́nh trụ và định kỳ khuấy mẫu trong thời gian th1i nghiệm. Sau khi đă thiết lập được trạng thái cân bằng  người ta đo lượng nước do mô thải ra và hút vào. Để thực hiện công việc đó sử dụng khúc xạ kế để đo nồng độ dung dịch trước và sau khi thí nghiệm và tính lượng nước tương ứng:

 

                           

 

A: % đường trong dung dịch trước khi ngâm mẫu

B: % đường trong dung dịch sau khi ngâm mẫu

C: Khối lượng của 2ml dung dịch đường

Tiến hành tính toán tính thấm của tế bào chất theo công thức:

 

                               

 

a: Lượng nước do mô hút vào hoặc thải ra

T: Thời gian ngâm mẫu (giờ)

S: diện tích bề mặt của mẫu (cm2)

 

·        Xác định tính chịu mất nước của mô thực vật

 

Chuẩn bị dăy các dung dịch saccaroza ưu trương. Dung dịch đầu tiên của dăy nồng độ trùng với nồng độ của dung dịch dùng để đo tính thấm của tế bào chất đối với nước – sức hút của đối tượng là +5at. Sức hút của mỗi dung dịch tiếp theo của dăy khác với dung dịch kế tiếp là 5at. Thang có thể hạn chế chỉ 4 dung dịch: +5, +10, +15, +20 at đối với sức hút của đối tượng.

    Nếu đối tượng thí nghiệm đang ở trạng thái thuận lợi th́ cần chọn nồng độ của dung dịch cuối lớn hơn so với nồng độ giả thuyết ban đầu. Điều đó là cần thiết để đặc trưng sự biến động khả năng chống đỡ sự mất nước của mô trong giới hạn của một đối tượng nghiên cứu trong thời gian phát triển quanh năm ở những điều kiện dao động của môi trường.

            Cắt lấy các mẫu mô (cố gắng ít tổn thương) hay cơ quan thực vật, cho chúng vào các cốc chứa dung dịch saccaroza với nồng độ đă biết (xuất phát từ sức hút của đối tượng nghiên cứu), giữ chúng trong đó và khuấy định kỳ trong thời gian 1,5-2giờ (xác định sơ bộ thời gian ngâm đối tượng nghiên cứu và xác định thời gian cần để xác lập sự cân bằng tương đối giữa nồng độ của dung dịch bên ngoài và sức hút của đối tượng). Sau đó đo nồng độ của dung dịch trước và sau thí nghiệm trên máy khúc xạ kế. Để có nhiệt độ chuẩn người ta nối khúc xạ kế với máy điều nhiệt để chỉnh nhiệt độ về 20oC. Nếu không có máy điều chỉnh nhiệt độ th́ phải đo nhiệt độ không khí lúc xác định để sau đó hiệu chỉnh theo bảng. Theo sự sai khác về nồng độ của dung dịch saccaroza trước và sau khi ngâm mẫu thí nghiệm người ta tính được lượng nước do mô thực vật thải ra. Thể hiện lượng nước t́m được bằng cách đo phần trăm so với lượng nước ban đầu ở trong mô thí nghiệm. Xác định lượng nước ban đầu đó trong mẫu song song lấy ngay từ khi bắt đầu cho các mẫu nghiên cứu vào dung dịch saccaroza bằng phương pháp trọng lượng (cân trọng lượng mẫu ban đầu, sấy trong 7 giờ trong tủ sấy ở nhiệt độ 100-105oC và lại cân).

Tính toán theo sơ đồ sau:

         T́m khối lượng đường trong 2ml dung dịch khởi điểm:

 

                                        

        

A: Khối lượng 2ml dung dịch saccaroza

a: % đường trong dung dịch khởi điểm.

Sau đó tính lượng dung dịch sau khi thêm lượng nước từ mô ra và nồng độ dung dịch loăng đi.

 

                               

 x: Khối lượng đường t́m được trong 2ml dung dịch

b: % đường trong dung dịch sau khi tương tác với mẫu

Lượng nước do mô thải vào dung dịch bằng hiệu giữa khối lượng ban đầu của 2ml dung dịch và khối lượng của nó sau khi thí nghiệm A -Y. Tính lượng đó ra phần trăm so với hàm lượng ban đầu của nước trong mô. (P: khối lượng mẫu)

                               

 

Trang 1 2 3 4 5 Về đầu trang